Thông báo

Trang nhất Trang nhất Tin Tức Trang nhất Hoạt động nhà trường

BÁO CÁO CÔNG TÁC NHIỆM KỲ CỦA QUỐC HỘI KHÓA XIII

Thứ tư - 13/04/2016 04:32

Tại kỳ họp thứ 11, sáng 22-3, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng trình bày dự thảo Báo cáo công tác nhiệm kỳ khóa XIII của Quốc hội.



Sau đây là nội dung báo cáo:

Quốc hội khóa XIII được cử tri cả nước bầu ra ngày 22-5-2011, hoạt động trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; ở trong nước có những thuận lợi, thời cơ đan xen với những khó khăn, thách thức. Trong 5 năm qua, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và toàn dân, nền kinh tế vượt qua giai đoạn suy giảm; kinh tế vĩ mô dần ổn định, tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, lạm phát được kiểm soát. Việc cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, thực hiện ba đột phá chiến lược được tập trung triển khai và đạt kết quả tích cực bước đầu. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển; an sinh xã hội được bảo đảm. Chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường và giữ vững; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và có hiệu quả. 

Tuy nhiên, kinh tế nước ta phát triển chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, yêu cầu và thực tế nguồn lực được huy động. Kinh tế vĩ mô chưa vững chắc, tăng trưởng kinh tế phục hồi chậm và chưa ổn định, nợ công tăng cao và tăng nhanh. Chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh chưa được giải quyết có hiệu quả, nhất là các vấn đề xã hội và quản lý xã hội. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa được ngăn chặn và đẩy lùi. Những diễn biến mới phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, tình hình căng thẳng trên biển Đông, đe dọa hòa bình, sự toàn vẹn lãnh thổ; sự chống phá của các thế lực thù địch; thiên tai, dịch bệnh và những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu,… là những nguy cơ gây mất ổn định, tác động bất lợi đến phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Trong điều kiện đó, năm năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, từng vị đại biểu Quốc hội đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, phối hợp chặt chẽ với Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các ngành, các cấp và các cơ quan, tổ chức hữu quan triển khai khối lượng lớn công việc về lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng và giám sát tối cao; góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đưa đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Thực hiện chức năng lập hiến, lập pháp

Lập hiến, lập pháp là nhiệm vụ trọng tâm, nặng nề của Quốc hội khóa XIII. Quốc hội đã tập trung, nỗ lực thực hiện tốt chức năng này và đạt được kết quả nổi bật, hết sức quan trọng, kịp thời đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cuộc sống, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, hội nhập quốc tế, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 

Quốc hội khóa XIII đã hoàn thành trọng trách xây dựng và thông qua bản Hiến pháp 2013, thể chế hóa đường lối của Đảng, đặc biệt là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Với quá trình chuẩn bị khoa học, công phu, chặt chẽ trong 3 năm 2011-2013, bản Hiến pháp mới được thông qua đã kế thừa và phát triển các giá trị cốt lõi, nền tảng của các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, đồng thời bổ sung, làm rõ, đầy đủ và sâu sắc hơn nhiều nội dung mới, quan trọng, phù hợp với đường lối, định hướng phát triển đất nước, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước và hội nhập quốc tế trong thời kỳ mới.

Hiến pháp 2013 thể hiện rõ quy định Đảng phải gắn bó mật thiết với Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, phục vụ Nhân dân. Đảng viên hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Những quy định này mang đậm tinh thần đổi mới để giữ vững nền tảng ổn định, đưa đất nước ngày một phát triển. Về bộ máy Nhà nước, Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, đồng thời phát triển và làm rõ hơn nguyên tắc thống nhất quyền lực nhà nước, phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, tạo nền tảng pháp lý minh bạch rõ ràng về bộ máy Nhà nước. Đặc biệt, Hiến pháp quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước phải tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp cũng khẳng định trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam của mọi công dân, lực lượng vũ trang trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân, làm lực lượng nòng cốt huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để tạo thành sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc.

Hiến pháp mới tạo cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi các mục tiêu xây dựng, bảo vệ, phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước; thể hiện sự đổi mới đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Khẳng định và thể hiện rõ, đầy đủ hơn quyền làm chủ của Nhân dân; bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục bảo đảm, bảo vệ, tôn trọng quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; khẳng định, làm rõ hơn các nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và các nội dung quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; quy định rõ ràng, đầy đủ về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường, bảo vệ Tổ quốc. 

Việc chuẩn bị Dự thảo sửa đổi Hiến pháp được tiến hành công phu, nghiêm túc, chắt lọc, tiếp thu được nhiều ý kiến tâm huyết, trí tuệ của cử tri và Nhân dân cả nước, của các vị đại biểu Quốc hội, các chuyên gia, nhà khoa học. Ngay từ kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã xem xét, quyết định chủ trương sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Trên cơ sở bám sát Cương lĩnh của Đảng, tình hình thực tiễn, yêu cầu phát triển đất nước, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 tổ chức tổng kết việc thi hành Hiến pháp, xây dựng Dự thảo sửa đổi Hiến pháp trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến và ban hành Nghị quyết về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, việc lấy ý kiến về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã được các cấp, các ngành triển khai sâu rộng, nghiêm túc, thu hút được sự tham gia góp ý tích cực, tâm huyết, có chất lượng của các tầng lớp Nhân dân và đồng bào Việt Nam ở nước ngoài, thực sự là đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý dân chủ, sâu rộng trong toàn xã hội. Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã tập hợp, tổng hợp đầy đủ, khách quan, trung thực ý kiến của Nhân dân; nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu, giải trình cụ thể các ý kiến để chỉnh lý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp trình Quốc hội. Tại các kỳ họp, bằng trí tuệ, tâm huyết của mình và trên cơ sở ý kiến của Nhân dân, các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận dân chủ, trách nhiệm, toàn diện các nội dung của Dự thảo Hiến pháp, nhất là các vấn đề về bản chất của Nhà nước và hệ thống chính trị, về quyền làm chủ của Nhân dân, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. 

Cùng với việc thông qua Hiến pháp mới, Quốc hội khóa XIII đã ban hành một khối lượng văn bản quy phạm pháp luật lớn nhất từ trước đến nay với chất lượng ngày càng nâng cao . Đặc biệt, ngay sau khi Hiến pháp mới được thông qua, Quốc hội khóa XIII đã khẩn trương triển khai thực hiện đưa Hiến pháp vào cuộc sống . Trong nhiệm kỳ, Quốc hội đã tập trung thực hiện một khối lượng công việc lập pháp rất lớn, xem xét, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới hầu hết các bộ luật lớn, các đạo luật quan trọng, cơ bản hoàn thành hệ thống pháp lý về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tổ chức bộ máy nhà nước, thể chế kinh tế thị trường, luật pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền tự do dân chủ của Nhân dân. Các luật, pháp lệnh đã thể chế hóa chủ trương của Đảng, cụ thể các quy định mới của Hiến pháp, tạo cở sở pháp lý đồng bộ cho việc đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở; phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân; thúc đẩy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền tự do kinh doanh bình đẳng, theo pháp luật; bảo đảm an sinh xã hội; vấn đề đất đai, bảo vệ môi trường; đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền với nhiều nội dung đổi mới, tiến bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế, cụ thể hóa và bảo đảm các quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin…; tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm; củng cố quốc phòng, bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an sinh xã hội; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng.

Quốc hội đã có nhiều cải tiến, đổi mới trong quy trình lập pháp theo hướng nâng cao chất lượng, tăng tính chủ động, chặt chẽ, minh bạch, dân chủ, cụ thể trong văn bản luật. Việc lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội cả nhiệm kỳ và hằng năm đã bám sát các quan điểm, đường lối của Đảng, yêu cầu thể chế hóa Hiến pháp; bám sát yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tạo sự chủ động cho các cơ quan trong việc đề xuất, xây dựng và trình các dự án luật, pháp lệnh. 

Công tác soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh đã được nâng lên một bước rõ rệt cả chất lượng và số lượng. Việc phân tích chính sách, đánh giá tác động trước khi xây dựng dự thảo luật đã được coi trọng hơn, kỹ thuật soạn thảo văn bản có tiến bộ rõ rệt. Việc thẩm tra các dự án được các cơ quan của Quốc hội tiến hành tích cực, khẩn trương, bảo đảm yêu cầu về điều kiện, chất lượng dự án trình Quốc hội. Cơ quan thẩm tra chủ động phối hợp với cơ quan soạn thảo ngay từ đầu và nghiên cứu, khảo sát thực tế, tham khảo, lấy ý kiến của chuyên gia, các đối tượng chịu sự tác động của văn bản,... nên báo cáo thẩm tra nhìn chung bảo đảm chất lượng, tính phản biện cao, là cơ sở quan trọng để Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội thảo luận, cho ý kiến và biểu quyết thông qua các dự án luật. 

Việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân, các ngành, các cấp về các dự án luật được chú trọng và có nhiều đổi mới; số lượng dự án lấy ý kiến Nhân dân tăng lên với các hình thức đa dạng, phong phú, trong đó có việc phát huy và sử dụng thế mạnh của công nghệ thông tin, các phương tiện truyền thông. Việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân ngày càng có hiệu quả, dân chủ, thận trọng trong hoạt động lập pháp, huy động được trí tuệ, sự đồng thuận của xã hội, bảo đảm tính công khai, minh bạch ngay trong khâu dự kiến hoạch định chính sách.

Việc chỉnh lý dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết được Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo sát sao; Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tiến hành nghiêm túc, trách nhiệm, có sự phối hợp chặt chẽ của cơ quan soạn thảo và các cơ quan, tổ chức hữu quan. Việc thảo luận, thông qua dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết tại kỳ họp Quốc hội, phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày càng đi vào nề nếp, đúng quy trình, tiết kiệm thời gian nhưng vẫn bảo đảm chất lượng. Việc bố trí nội dung, thời lượng thảo luận ở tổ và hội trường về các dự án luật tương đối phù hợp, khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu tài liệu của đại biểu Quốc hội và phục vụ nghiên cứu, thảo luận, cho ý kiến, tiếp thu giải trình và hoàn thiện dự án trình thông qua.

Các Đoàn đại biểu Quốc hội đã có nhiều hình thức thảo luận, tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan, tổ chức hữu quan và cá nhân ở địa phương vào các dự án luật. Các vị đại biểu Quốc hội đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động nghiên cứu, tích cực đóng góp ý kiến để nâng cao chất lượng văn bản ban hành. Ủy ban thường vụ Quốc hội đã tổ chức các hội nghị để tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt của đại biểu Quốc hội chuyên trách trong việc thảo luận, cho ý kiến đối với những dự án luật có nội dung phức tạp, nhạy cảm, còn có nhiều ý kiến khác nhau trước khi trình Quốc hội xem xét, thông qua. 

Các văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành cơ bản bám sát yêu cầu của cuộc sống và đáp ứng các tiêu chí của hệ thống pháp luật về tính đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai và minh bạch; xử lý tốt những vấn đề phức tạp, phản ánh đầy đủ và sát hơn thực tiễn xã hội, nên đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các chính sách về an sinh xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong toàn hệ thống chính trị, mang lại một diện mạo mới cho sự phát triển của đất nước. Đã tăng đáng kể số lượng văn bản luật có quy định cụ thể, trực tiếp điều chỉnh các quan hệ xã hội, không phải chờ văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành khi triển khai thực hiện, nên sớm đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của pháp luật.

Hoạt động lập hiến, lập pháp của Quốc hội khóa XIII đạt được kết quả nổi bật, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, hội nhập quốc tế, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động lập pháp vẫn còn không ít hạn chế. Việc thường xuyên phải điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh chưa được khắc phục. Một số đạo luật còn có quy định chưa phản ánh đầy đủ, sát thực nhu cầu cuộc sống nên hiệu quả điều chỉnh và tính khả thi không cao. Một số quy định vẫn còn mang tính nguyên tắc chung nên khi triển khai thực hiện vẫn phải phụ thuộc vào văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Giữa các văn bản khác nhau vẫn còn có trường hợp quy định thiếu tính thống nhất. Công tác chuẩn bị đối với một số dự án luật chưa bảo đảm tiến độ, chất lượng văn bản trình Quốc hội. Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên chủ yếu do đất nước ta đang trong quá trình phát triển, các quan hệ kinh tế - xã hội cần được pháp luật điều chỉnh thay đổi thường xuyên, diễn biến khó lường, nên chưa dự liệu đầy đủ trong quá trình xây dựng pháp luật. Vai trò, trách nhiệm của các chủ thể có liên quan trong nhiều trường hợp chưa được thể hiện và phát huy tối đa, nhất là trong công tác chuẩn bị dự án luật, một số chủ thể có thẩm quyền chưa thực sự coi trọng, quan tâm, đầu tư. Tiếp đến là việc thực hiện quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nội quy kỳ họp Quốc hội chưa nghiêm, nhất là việc gửi dự án luật đến các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Công tác phối hợp giữa các cơ quan của Quốc hội, nhất là việc tham gia thẩm tra, tham gia chỉnh lý dự án luật chưa được chặt chẽ, hiệu quả. Chưa có cơ chế rõ ràng, thuận tiện để phát huy một cách thiết thực, hiệu quả trí tuệ của các chuyên gia, nhà khoa học cũng như việc nắm bắt, lắng nghe đầy đủ ý kiến của các đối tượng sẽ chịu sự điều chỉnh của luật. 

Về thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước

Trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước còn nhiều khó khăn, Quốc hội khóa XIII đã tập trung trí tuệ, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của cử tri, thực hiện vai trò quyết định những chủ trương lớn của đất nước từ đổi mới nền kinh tế, đưa nền kinh tế vượt qua khó khăn thách thức; phát triển khoa học, văn hóa, giáo dục, môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu cho tới đối phó với những thách thức đe dọa an ninh chính trị, bảo vệ độc lập chủ quyền, xây dựng đất nước.

Quốc hội đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng quyết định việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; điều chỉnh các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 sát thực tiễn hơn; tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tái cơ cấu nền kinh tế để nâng cao chất lượng, hiệu quả và đề ra những chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể đối với các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, tạo chuyển biến tích cực, hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. 

Từ tình hình thực tiễn, Quốc hội kịp thời quyết định các chính sách mang tính quốc kế dân sinh, phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đất nước. Trong điều kiện kinh tế khó khăn, Quốc hội đã có nhiều quyết sách đồng bộ để ứng phó kịp thời; thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thận trọng, linh hoạt; quyết định giảm các khoản chi tiêu chưa thật cần thiết và kém hiệu quả; quyết liệt bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, phục hồi và tạo đà tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Nhiều quyết sách giải quyết kịp thời những bức xúc từ cuộc sống như: công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện; tăng cường các biện pháp đấu tranh, phòng chống tội phạm; dành ngân sách hỗ trợ đóng tàu đánh bắt xa bờ, bảo vệ chủ quyền biển đảo; tiếp nhận người nghiện ma túy vào các cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội; tăng lương cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách còn khó khăn... được đông đảo cử tri hoan nghênh. 

Quốc hội cũng đã thảo luận, cân nhắc thận trọng và khẳng định sự cần thiết, tính đúng đắn của chủ trương đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành; xác định đây là dự án quan trọng đặc biệt cấp quốc gia, có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng động lực phát triển kinh tế - xã hội phía Nam và cả nước. Trên cơ sở đó, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành, chỉ rõ mục tiêu xây dựng và xác định những vấn đề cốt yếu trong chủ trương đầu tư dự án như: quy mô dự án, tổng mức đầu tư và cơ cấu đầu tư, công nghệ áp dụng, diện tích đất sử dụng và thời gian, lộ trình thực hiện. Bên cạnh đó, Quốc hội cũng đã ban hành Nghị quyết về điều chỉnh một số nội dung và giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh theo Nghị quyết số 38/2004/QH11 của Quốc hội khóa XI.

Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã bầu những người đứng đầu các cơ quan nhà nước và phê chuẩn việc bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ; quyết định về cơ cấu tổ chức của Chính phủ. Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội đã bầu bổ sung 01 thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội và phê chuẩn việc miễn nhiệm, bổ nhiệm một số chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn . Quốc hội cũng đã tiến hành xét bãi nhiệm tư cách đại biểu Quốc hội đối với 2 đại biểu Quốc hội. 

Yếu tố trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn trong quyết sách của Quốc hội nhiệm kỳ này được thể hiện rõ nét. Mỗi phát biểu của đại biểu Quốc hội trên diễn đàn đều xuất phát từ đời sống thường nhật, thể hiện ý chí, mong muốn và nguyện vọng của người dân, lấy mục tiêu lo việc của dân để bàn thảo và quyết định các vấn đề hệ trọng của đất nước. Vì vậy việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước ngày càng hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, vì lợi ích của quốc gia, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, góp phần vào ổn định kinh tế vĩ mô, đưa nền kinh tế từng bước vượt qua khó khăn, tiếp tục tăng trưởng, thúc đẩy chuyển dịch mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. 

Bên cạnh những kết quả đạt được, Quốc hội cũng nhận rõ phần trách nhiệm đối với những tồn tại, yếu kém của đất nước đó là: chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn; cơ cấu ngân sách chưa hợp lý, bội chi cao, nợ công tăng; tái cơ cấu kinh tế chậm; ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm đang là những vấn đề bức xúc; cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu; kỷ luật, kỷ cương công vụ chưa nghiêm; tình hình tội phạm, trật tự an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp; nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo đứng trước những thách thức mới... Những vấn đề này Quốc hội đã có nhiều giải pháp nhưng chưa đạt hiệu quả, chưa tạo được chuyển biến tích cực. Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên một phần là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới và những hạn chế, yếu kém vốn có của nền kinh tế. Mặt khác cũng có phần do Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội chưa quan tâm thỏa đáng đến việc thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Bên cạnh đó, quy trình, thủ tục để Quốc hội xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng chưa được quy định đầy đủ, thống nhất; đại biểu Quốc hội chưa được cung cấp đầy đủ thông tin, thiếu thời gian nghiên cứu, chưa có điều kiện sử dụng chuyên gia tư vấn, phản biện để phân tích trước khi biểu quyết.

Về thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước

Cùng với hoạt động lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, hoạt động giám sát của Quốc hội có nhiều đổi mới, tạo sự chuyển động mạnh mẽ trong hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở. Quốc hội đã thực hiện quyền giám sát của mình để đảm bảo luật pháp, các nghị quyết của Quốc hội được tuân thủ, đi vào thực tiễn cuộc sống, đồng thời đặt ra những vấn đề nổi lên trong đời sống kinh tế-xã hội, những bất cập về chính sách, pháp luật, từ đó cùng Chính phủ, các Bộ, ngành đánh giá thực tiễn, làm rõ nguyên nhân, bàn giải pháp khắc phục kịp thời những hạn chế, khó khăn trong thực tiễn. 

Quốc hội đã tiến hành nhiều nội dung giám sát quan trọng, từ những vấn đề kinh tế vĩ mô đến các vấn đề dân sinh bức xúc với nhiều hình thức phong phú, luôn bám sát và phản ánh thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội. Thông qua giám sát, nhiều hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành của các ngành, các cấp được phát hiện; nhiều kiến nghị qua giám sát đã được các cơ quan nghiêm túc thực hiện, tạo chuyển biến tích cực, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.

Hoạt động chất vấn của Quốc hội tiếp tục được đổi mới về chiều sâu, chú trọng về chất lượng, tinh thần xây dựng, trách nhiệm, tính dân chủ, công khai, tính tranh luận, đối thoại tăng lên rõ rệt qua từng kỳ họp. Thời gian cho hoạt động chất vấn không thể tăng thêm, nhưng các nội dung được đưa ra ngày một nhiều và đã được phân tích, trao đổi, xử lý kỹ lưỡng nên đã tạo ảnh hưởng tích cực, rõ nét hơn trong đời sống kinh tế -xã hội. Cách thức tiến hành nội dung chất vấn và trả lời chất vấn theo nhóm vấn đề được kế thừa và phát huy một cách hiệu quả, bảo đảm sự hài hòa giữa tính khái quát, vĩ mô trong giám sát tối cao của Quốc hội và tính cụ thể, trực tiếp trong thực thi nhiệm vụ đại diện cho cử tri. Việc Quốc hội luôn ban hành Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn với những nội dung xác đáng, thiết thực là điểm đối mới đáng kể, giúp cho việc giám sát thực hiện lời hứa và các yêu cầu của Quốc hội sau chất vấn được kịp thời và có căn cứ. Qua hoạt động chất vấn, nhiều vấn đề nổi cộm, bức xúc trên các lĩnh vực như: giao thông vận tải, ngân hàng, y tế, giáo dục, tư pháp… đã có nhiều chuyển biến đáng kể, được các vị đại biểu Quốc hội, cử tri, dư luận xã hội đánh giá cao. 

Điểm mới của nhiệm kỳ khóa XIII là tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội tiến hành chất vấn trực tiếp những người đứng đầu các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về hoạt động giám sát chuyên đề và hoạt động chất vấn từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII, thể hiện việc theo dõi, giám sát đến cùng việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội, đánh giá hiệu quả hoạt động giám sát, chất vấn nhiệm kỳ vừa qua, rút ra những bài học cần thiết để tiếp tục hoàn thiện chức năng quan trọng này của Quốc hội. Nhiều vấn đề bức xúc của đời sống kinh tế - xã hội tiếp tục được đưa ra phân tích, xem xét thấu đáo dưới nhiều góc độ. Quốc hội đã ra nghị quyết về việc tiếp tục thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về hoạt động giám sát chuyên đề và hoạt động chất vấn, yêu cầu Thủ tướng Chính phủ, các vị bộ trưởng, trưởng ngành tiếp tục thực hiện có kết quả những vấn đề đã hứa trước Quốc hội và cử tri cả nước.

Có thể khẳng định chất vấn là hình thức giám sát hiệu quả nhất trong hoạt động giám sát của Quốc hội, luôn thu hút sự quan tâm, theo dõi của nhiều tầng lớp Nhân dân, luôn thúc đẩy đại biểu Quốc hội lắng nghe, trăn trở với các vấn đề bức xúc, nổi cộm của đời sống xã hội để tâm huyết chuẩn bị các chất vấn có chất lượng; đồng thời cũng giúp những người bị chất vấn sẵn sàng chia sẻ, nhìn nhận, đánh giá các vấn đề đặt ra một cách chính xác, khách quan; từ đó tạo ra sự chuyển biến tích cực, sự thống nhất chung trong nhận thức và hành động của cả bộ máy nhà nước.

Hoạt động giám sát tối cao theo chuyên đề đã được tập trung vào những vấn đề bức xúc và cấp thiết của cuộc sống như việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề; quy hoạch thủy điện; đầu tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn; quản lý, sử dụng đất đai tại các nông, lâm trường quốc doanh; bảo hiểm y tế, giảm nghèo; việc thi hành Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cho đầu tư xây dựng cơ bản; việc thực hiện tái cơ cấu kinh tế trong lĩnh vực đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước và hệ thống ngân hàng; tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự... Trên cơ sở kết quả thảo luận của các đại biểu Quốc hội, Quốc hội đã ban hành nghị quyết về kết quả giám sát chuyên đề, qua đó nêu rõ yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể mà Chính phủ, các cơ quan liên quan phải tập trung thực hiện.

Việc xem xét báo cáo công tác của các cơ quan hữu quan đã được Quốc hội thực hiện thường xuyên, nghiêm túc theo đúng quy định của pháp luật. Các báo cáo đều được thẩm tra kỹ lưỡng, định hướng được những vấn đề quan trọng làm cơ sở cho Quốc hội thảo luận. Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội nghiên cứu kỹ lưỡng, thảo luận sâu sắc các báo cáo gắn với tình hình thực tiễn, đánh giá khách quan những tồn tại, hạn chế trong công tác của các cơ quan, nguyên nhân của thực trạng và từ đó yêu cầu các cơ quan đề ra các biện pháp cụ thể để khắc phục. Sau khi xem xét báo cáo, nhiều nội dung đã được Quốc hội ban hành nghị quyết làm căn cứ cho các cơ quan thực hiện, tạo chuyển biến tích cực; đồng thời để Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội theo dõi, giám sát việc thực hiện.

Quốc hội khóa XIII đã thực hiện có hiệu quả giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Quốc hội đã ban hành nghị quyết về tăng cường công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Thực hiện nghị quyết của Quốc hội, tại các kỳ họp, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã nghiêm túc báo cáo Quốc hội về tình hình triển khai thực hiện nghị quyết. Theo đó, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan đã rà soát tất cả các luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã có hiệu lực hoặc sẽ có hiệu lực để xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tình trạng chậm trễ ban hành văn bản, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban luôn dành thời gian và chú trọng đến giám sát việc ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết thuộc lĩnh vực phụ trách; thực hiện kiến nghị cơ quan có thẩm quyền trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật sau khi giám sát; thường xuyên giám sát việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thuộc lĩnh vực được phân công. 

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII cũng đã đánh dấu một dấu mốc lịch sử khi lần đầu tiên Quốc hội tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Việc lấy phiếu tín nhiệm đã được triển khai một cách thận trọng, nghiêm túc theo đúng nội dung, quy trình, thủ tục được quy định trong Nghị quyết của Quốc hội và hướng dẫn của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Toàn bộ quy trình lấy phiếu tín nhiệm được làm một cách dân chủ, công khai, minh bạch để công luận, cử tri và Nhân dân cả nước theo dõi, giám sát. Với trách nhiệm của mình, các vị đại biểu Quốc hội đã dành thời gian nghiên cứu, nắm bắt thông tin, thảo luận, đánh giá khách quan, công tâm mức độ tín nhiệm của các vị được Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm đã thúc đẩy những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn không ngừng phấn đấu, rèn luyện phẩm chất, nâng cao năng lực, hiệu quả công tác, tạo chuyển biến rõ rệt trong trong một số ngành, lĩnh vực.

Hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội được tiến hành chủ động, có nhiều chuyển biến rõ rệt. Hoạt động giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã được tổ chức thực hiện thường xuyên, nghiêm túc theo quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội. Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội đã tiến hành giám sát khá toàn diện các lĩnh vực được phân công phụ trách; quan tâm đổi mới nội dung và hình thức giám sát, có sự kết hợp giữa giám sát chuyên đề và giám sát thường xuyên. Hoạt động thẩm tra các báo cáo hàng năm, giám sát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri, giám sát chuyên đề... ngày một nâng cao về chất lượng và hiệu quả. Việc tổ chức chất vấn tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội và tổ chức hoạt động giải trình tại Hội đồng, Uỷ ban của Quốc hội tiếp tục được tăng cường và đạt được những kết quả quan trọng. Việc giám sát chuyên đề của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội đã làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng của giám sát trong việc triển khai thi hành pháp luật, có các kiến nghị xác đáng về hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện. Nhiều kiến nghị đã được các cơ quan có trách nhiệm thực hiện và rút ra những kinh nghiệm, khắc phục những sai sót trong quá trình thi hành pháp luật.

Các Đoàn đại biểu Quốc hội đã có nhiều cố gắng trong hoạt động giám sát tại địa phương. Qua giám sát, nhiều kiến nghị có chất lượng đã được các bộ, ngành, cơ quan hữu quan ở trung ương và địa phương xem xét giải quyết. Các Đoàn đại biểu Quốc hội cũng đã phối hợp tốt trong việc giám sát chuyên đề theo chương trình giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội. Nhiều vị đại biểu Quốc hội đã tích cực tham gia hoạt động của các Đoàn giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, của Đoàn đại biểu Quốc hội, hoạt động tiếp xúc cử tri, từ đó có điều kiện thực hiện tốt hơn quyền chất vấn và giám sát tối cao tại các kỳ họp Quốc hội.

Có thể khẳng định hoạt động giám sát của Quốc hội tiếp tục được đổi mới, tăng cường theo hướng ngày càng hiệu quả hơn, tác động chuyển biến trong nhận thức về vai trò của hoạt động giám sát tối cao, góp phần tích cực vào quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật, giải quyết những vấn đề bức xúc do cuộc sống đặt ra, thúc đẩy chuyển động mạnh mẽ trong hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương. 

Các hoạt động của Quốc hội nói chung và giám sát, chất vấn của Quốc hội được tổ chức công khai, minh bạch, đưa Quốc hội đến gần với dân hơn. Hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn, giám sát tối cao của Quốc hội được phát thanh, truyền hình trực tiếp và thông qua hệ thống truyền thông tới từng nhà, từng vùng, để từng người dân có thể biết Đảng, Chính phủ, các bộ, ngành đang làm gì; Quốc hội, đại biểu Quốc hội, những người đang thay mặt cử tri, nhân dân cả nước đang bàn bạc công việc quốc kế, dân sinh của đất nước, tìm giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế, bức xúc trong dân…, từ đó tạo nên sự đồng thuận, tin tưởng của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động của Chính phủ, các bộ, ngành trong bộ máy Nhà nước, và hoạt động của Quốc hội với tư cách là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân.

Mặc dù có nhiều cải tiến, đổi mới, đạt được những kết quả quan trọng, nhưng hoạt động giám sát của Quốc hội vẫn còn hạn chế, bất cập như: Trong một số trường hợp, chưa xác định rõ ràng trách nhiệm của các chủ thể có liên quan đến các vấn đề được giám sát, chưa xác định rõ biện pháp xử lý, chưa có chế tài phù hợp; việc theo dõi, đôn đốc, giám sát việc thực hiện kết luận, kiến nghị sau giám sát có lúc, có nội dung chưa thực sự quyết liệt, nên có không ít những vụ việc, vấn đề bất cập còn tồn tại chậm được giải quyết, tiếp tục gây bức xúc trong đời sống xã hội. Việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của cử tri chưa đạt yêu cầu; giám sát việc thi hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chưa được thực hiện tốt và kết quả thấp; một số quy định của pháp luật về giám sát như việc cử tri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn chưa có điều kiện thực tế để thực hiện... Nguyên nhân của các hạn chế nêu trên là trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giám sát, một số chủ thể chưa thực sự đi sâu, phân tích kỹ lưỡng vấn đề cần giám sát, còn chủ yếu giám sát bằng hình thức nghe báo cáo của bộ, ngành, địa phương; một số quy định về hoạt động giám sát còn thiếu cụ thể hoặc chưa thật phù hợp, nhất là cơ chế giám sát thực hiện kết luận, giải quyết các kiến nghị sau giám sát và giám sát việc giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo cụ thể của công dân.

Về hoạt động đối ngoại

Hoạt động đối ngoại của Quốc hội đã có sự chuyển biến rất tích cực, nổi bật, để lại ấn tượng tốt đẹp, góp phần quan trọng vào công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước, Nhân dân; nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới.

Trong bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, công tác đối ngoại nhiệm kỳ khóa XIII đã quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc, phương châm, quan điểm chỉ đạo về đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XI. Các hoạt động đối ngoại được triển khai chủ động, tích cực, phối hợp đồng bộ và hiệu quả với đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân, góp phần giữ vững môi trường hòa bình ổn định để phát triển đất nước, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững ổn định chính trị-xã hội, nâng cao vị thế của đất nước.

Quốc hội đã kiến nghị với Đảng, Chính phủ thông qua những quyết sách quan trọng , những đề án lớn về phát triển quan hệ của ta với các nước lớn, các nước láng giềng ; chủ động, tích cực đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện gắn kết với nâng cao nội lực, xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập quốc tế, góp phần tích cực thực hiện các cam kết về lộ trình hội nhập kinh tế khu vực và phát triển các quan hệ kinh tế song phương; đưa quan hệ hợp tác với Quốc hội các nước đi vào chiều sâu, hiệu quả, đặc biệt là với các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác và các nước bạn bè truyền thống , qua đó tranh thủ sự ủng hộ của Quốc hội các nước trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta như vấn đề Biển Đông, tạo môi trường hòa bình và ổn định để phát triển, tăng cường hiểu biết, giảm thiểu những nhận thức sai lệch về tình hình Việt Nam, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc trong quan hệ quốc tế.

Với tinh thần chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, Quốc hội đã tham gia, phát huy vai trò tích cực, có trách nhiệm tại các diễn đàn liên nghị viện thế giới và khu vực , góp phần vào duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy đối thoại và hợp tác. Bên cạnh những đóng góp tích cực thúc đẩy các trọng tâm ưu tiên của ASEAN trong việc hình thành Cộng đồng ASEAN vào cuối năm 2015 và xây dựng Tầm nhìn ASEAN sau 2015, Quốc hội đã đăng cai tổ chức thành công Đại hội đồng lần thứ 132 của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU-132). Đây là Hội nghị quốc tế đa phương lớn nhất mà Việt Nam đăng cai tổ chức. Kết quả của IPU-132 với chủ đề “Các mục tiêu phát triển bền vững: biến lời nói thành hành động” và thông qua Tuyên bố Hà Nội là những đóng góp hết sức có ý nghĩa của IPU nói chung và Việt Nam nói riêng trong tiến trình xây dựng, triển khai Chương trình Nghị sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc sau 2015, thể hiện sâu sắc tinh thần chủ động, tích cực của Quốc hội Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế, không chỉ vì lợi ích quốc gia, dân tộc, mà còn vì hòa bình, hợp tác và phát triển của cộng đồng quốc tế và nhân loại. Việc tổ chức thành công Đại hội đồng IPU-132 đã góp phần tiếp tục nâng cao vai trò và vị thế của Việt Nam và Quốc hội Việt Nam trong các hoạt động ngoại giao trên thế giới, tạo điểm nhấn quan trọng về ngoại giao nhà nước, đối ngoại của Quốc hội khóa XIII. Sự kiện Chủ tịch Quốc hội ta tham dự Hội nghị thượng đỉnh các Chủ tịch Quốc hội thế giới, đồng chủ trì phiên thảo luận chuyên đề “biến các Mục tiêu phát triển bền vững SDGs thành hành động” cũng như việc Quốc hội Việt Nam được bầu vào Ban Chấp hành IPU đã góp phần quan trọng nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, phát huy hiệu quả kênh hợp tác nghị viện đa phương.

Quốc hội đã có nhiều nỗ lực tạo sự chuyển biến tích cực trong quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt với nghị viện các nước trong khu vực và thế giới, với thành tựu nổi bật là đẩy mạnh chính sách đối ngoại toàn diện nhưng có ưu tiên, tạo bước đột phá, định hướng phát triển tích cực, lành mạnh, ổn định hơn cho quan hệ với các đối tác quan trọng, thể hiện qua thành công của các hoạt động đối ngoại cấp cao như chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng (2015) với việc ký Thỏa thuận hợp tác lần đầu tiên giữa hai cơ quan lập pháp tạo cơ sở pháp lý, mở ra giai đoạn phát triển mới trong quan hệ hợp tác giữa Quốc hội và nhân dân hai nước. Chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ lần đầu tiên của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng (2015) đánh dấu bước phát triển mới trong lịch sử quan hệ hai nước, hai Quốc hội. Chuyến thăm Liên bang Nga của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng (2013), Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng (2015) cùng với các chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Đuma Quốc gia (Hạ viện), Chủ tịch Hội đồng Liên bang (Thượng viện) và các chuyến thăm của lãnh đạo Nghị viện LB Nga là những hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh thúc đẩy việc ký kết và phê chuẩn Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu (trong đó có LB Nga). Quan hệ đối tác Nghị viện Châu Âu (EP) cũng được đẩy mạnh thông qua cơ chế đối thoại định kỳ giữa Quốc hội Việt Nam và EP được thiết lập từ năm 1996, đặc biệt phiên đối thoại lần thứ 9 được tổ chức nhân chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng tại Bruxelles, Bỉ đã thúc đẩy việc hoàn tất phê chuẩn PCA, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), đưa quan hệ hai bên phát triển lên tầm chiến lược trong giai đoạn mới, phù hợp với tiềm năng và mong muốn của hai bên. 

Công tác thông tin tuyên truyền đối ngoại có nhiều cải tiến về nội dung, hình thức. Thông qua kênh truyền hình Quốc hội, Báo Đại biểu Nhân dân, Bản tin Ngoại giao Nghị viện, hoạt động giải trình về các vấn đề quốc tế nổi bật... hoạt động của Quốc hội nói chung và hoạt động đối ngoại nói riêng được truyền tải thường xuyên, trực tiếp đến công chúng, góp phần tăng cường sự đồng thuận của Nhân dân, định hướng dư luận về các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; tranh thủ sự đồng tình của dư luận quốc tế trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, bác bỏ, chống lại các luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực phản động, thù địch về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động đối ngoại cũng còn một số hạn chế như: việc cử đoàn đi thăm và làm việc tại một số khu vực còn chưa hợp lý; việc chia sẻ thông tin, khai thác và theo dõi kết quả các hoạt động đối ngoại chưa thực sự hiệu quả; công tác tham mưu, dự báo chiến lược còn bị động; hoạt động của tổ chức nghị sĩ hữu nghị thiếu thường xuyên, hình thức và nội dung hoạt động chưa phong phú... Nguyên nhân của các hạn chế nêu trên là do công tác chỉ đạo, điều hòa, phối hợp trong hoạt động đối ngoại thực hiện chưa thường xuyên; trong cơ cấu Quốc hội còn thiếu các đại biểu Quốc hội có kinh nghiệm về hoạt động đối ngoại, có trình độ ngoại ngữ; công tác nghiên cứu về ngoại giao nghị viện chưa được đầu tư thỏa đáng.

Đổi mới, cải tiến hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII để lại nhiều dấu ấn về cải tiến, đổi mới trong hoạt động. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Quốc hội đã đưa vào chương trình nghị sự việc xem xét, quyết định một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội với các giải pháp thiết thực . Sau khi Nghị quyết về vấn đề này được ban hành, các giải pháp đã được triển khai thực hiện và mang lại hiệu ứng tích cực trong hoạt động của Quốc hội. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cung cấp tài liệu kỳ họp của Quốc hội, phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cung cấp thông tin hỗ trợ đại biểu Quốc hội và thông tin đến nhân dân về các hoạt động của Quốc hội cũng đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào tiến trình cải tiến, đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội. Tinh thần đổi mới, cải tiến này tiếp tục lan tỏa sang các quy định mới trong Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của Quốc hội.

Tính công khai, minh bạch trong hoạt động của Quốc hội được tăng cường. Việc ban hành Hiến pháp 2013 và sửa đổi, bổ sung hệ thống các luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội đã được triển khai mạnh mẽ , theo đó, Quốc hội được tổ chức, sắp xếp hợp lý hơn, vai trò, trách nhiệm, quyền hạn được tăng cường, các quy trình hoạt động được hoàn thiện theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tính công khai, minh bạch. Việc xây dựng và đưa kênh truyền hình Quốc hội đi vào hoạt động, tăng thời lượng phát thanh, truyền hình trực tiếp các phiên họp của Quốc hội tại hội trường, các phiên chất vấn của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hoạt động báo cáo giải trình của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; các chuyên mục trên báo, đài đã tạo điều kiện thuận lợi để đưa thông tin về hoạt động của Quốc hội đến với người dân; để Nhân dân, cử tri giám sát hoạt động của Quốc hội, đại biểu Quốc hội.

Quốc hội gần dân hơn, tăng cường năng lực đại diện, nâng cao chất lượng hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp công dân. Quy định về tiếp xúc cử tri, tiếp công dân của đại biểu Quốc hội đã được đổi mới từ quy định của pháp luật đến việc tổ chức thực hiện, trong đó, đã thực hiện nhiều hơn việc tiếp xúc cử tri do từng đại biểu Quốc hội thực hiện, nhờ đó đã thu thập được nhiều ý kiến, kiến nghị của cử tri . Cử tri cũng ngày càng có ý thức cao hơn trong việc bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, đóng góp ý kiến, kiến nghị vào việc tham gia xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước. Nhiều cơ chế để cử tri đóng góp ý kiến vào các quyết định của Quốc hội như việc đa dạng các hình thức tiếp xúc cử tri , đăng tải dự thảo luật để cử tri đóng góp ý kiến trên trang Dự thảo Online; tăng cường cơ chế đối thoại giữa cử tri và đại biểu Quốc hội; tăng cường số lượng các phiên họp của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội được phát thanh, truyền hình trực tiếp. Địa bàn tiếp xúc không giới hạn ở đơn vị bầu cử của đại biểu mà được mở rộng tới các thôn, bản, xã, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Nội dung, chương trình, thời điểm tiếp xúc cử tri được thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để cử tri biết, tham dự. Các hoạt động tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực, đối tượng đã được các Đoàn đại biểu Quốc hội quan tâm tổ chức và thực hiện khá hiệu quả. Việc thu thập ý kiến, kiến nghị của cử tri đã bao gồm tất cả các kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành và cả những vấn đề cụ thể, bức xúc tại địa phương, cơ sở. Công tác phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc tổ chức, phục vụ hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội ngày càng chặt chẽ và tăng cường hơn... Những cải tiến đó đã khắc phục từng bước tính hành chính, hội nghị, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cử tri tham gia các cuộc tiếp xúc của đại biểu Quốc hội và tạo được không khí dân chủ, cở mở, thẳng thắn, góp phần tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân nói chung và giữa đại biểu Quốc hội với cử tri nói riêng. Các ý kiến, kiến nghị của cử tri đã được phản ánh kịp thời hơn với Quốc hội và các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết, qua đó góp phần giúp các quyết định của Quốc hội về xây dựng pháp luật, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước phù hợp hơn với thực tế, đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nguyện vọng của cử tri và Nhân dân cả nước. 

Việc Quốc hội ban hành Luật tiếp công dân và Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 759/2014/NQ-UBTVQH13 quy định chi tiết việc tiếp công dân của Quốc hội đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể hơn về thẩm quyền và trách nhiệm tiếp công dân, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân của các cơ quan của Quốc hội, của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động tiếp công dân... Cùng với việc tiếp công dân thường xuyên , việc tiếp công dân tại mỗi kỳ họp Quốc hội được chuẩn bị chu đáo, bảo đảm mọi công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với Quốc hội đều được tiếp, giải thích, hướng dẫn kịp thời, đúng quy định của pháp luật; có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan để kịp thời xử lý tình trạng công dân đến khiếu nại, tố cáo không đúng nơi quy định. Việc tổ chức nơi tiếp công dân riêng của Quốc hội đã được triển khai một bước; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả tiếp công dân của Quốc hội.... nên mặc dù số lượng công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh với các cơ quan của Quốc hội, của Ủy ban thường vụ Quốc hội tăng nhiều so với nhiệm kỳ trước , việc xử lý đơn, thư của công dân kịp thời , đã góp phần hạn chế tình trạng công dân tập trung lâu ngày tại Hà Nội, bảo đảm an ninh trật tự tại các kỳ họp và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Bên cạnh những thành tích nổi bật trên, hoạt động tiếp xúc cử tri còn một số hạn chế, đó là nội dung tiếp xúc còn đơn điệu, cách thức tổ chức tiếp xúc chủ yếu vẫn là hội nghị ; chưa chú trọng việc từng đại biểu Quốc hội báo cáo với cử tri về kết quả hoạt động của mình và của Quốc hội; việc tổng hợp kiến nghị của cử tri của một số Đoàn đại biểu Quốc hội vẫn còn nặng về liệt kê số lượng kiến nghị... Trong hoạt động tiếp công dân, việc phân công thực hiện tiếp công dân tại địa phương của một số Đoàn đại biểu Quốc hội còn nhiều bất cập; việc tổ chức địa điểm tiếp công dân riêng của Quốc hội chưa thực hiện đầy đủ theo quy định của Luật tiếp công dân.

Các kỳ họp của Quốc hội đã diễn ra thành công với tinh thần đổi mới, dân chủ, đoàn kết, trách nhiệm, đúng quy định của pháp luật. Tại mỗi kỳ họp, số lượng vấn đề được đưa ra thảo luận, xem xét, quyết định nhiều hơn đáng kể so với nhiệm kỳ trước; các quyết định của Quốc hội được đưa ra trên cơ sở xem xét, thảo luận dân chủ, công khai, kỹ lưỡng, đạt sự thống nhất cao, đáp ứng yêu cầu thực tế cuộc sống và nguyên vọng của Nhân dân. 

Công tác tổ chức và tiến hành các kỳ họp Quốc hội có chuyển biến tích cực ở nhiều công đoạn: (1) Việc chuẩn bị và xem xét, quyết định các nội dung của kỳ họp có quy trình cụ thể, chặt chẽ hơn, theo đó chương trình kỳ họp, các nội dung trình Quốc hội về cơ bản đều phải được chuẩn bị chu đáo, xem xét cân nhắc kỹ lưỡng hơn trước khi trình Quốc hội tại kỳ họp. (2) Trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động của Quốc hội tại kỳ họp được thực hiện nghiêm túc, sáng tạo; các nội dung của kỳ họp được sắp xếp hợp lý hơn, sát với diễn biến thực tế, góp phần sử dụng hiệu quả thời gian kỳ họp, giải quyết khối lượng công việc lớn, phức tạp và bảo đảm nguyên tắc làm việc theo chế độ hội nghị, quyết định theo đa số. (3) Công tác điều hành kỳ họp vừa bảo đảm đúng nguyên tắc vừa linh hoạt, xử lý hài hòa các mối quan hệ, phát huy được tinh thần trách nhiệm của các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan hữu quan, các Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội; hướng đại biểu tập trung vào những vấn đề bức xúc nổi lên để phân tích, đánh giá và kịp thời đề xuất giải pháp tháo gỡ, góp phần đưa hiệu quả của kỳ họp nâng lên; kết luận tại các phiên họp cụ thể, khách quan, có sức thuyết phục, được đại biểu Quốc hội và cử tri đồng tình. (4) Công tác tổng hợp, tiếp thu, giải trình tương đối kịp thời, đầy đủ, đạt chất lượng cao hơn. (5) Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, Đoàn thư ký kỳ họp và các cơ quan hữu quan đã nâng cao trách nhiệm, phát huy trí tuệ, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, hiệu quả, thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công. (6) Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cung cấp tài liệu, cung cấp thông tin hỗ trợ đại biểu Quốc hội đạt nhiều bước tiến mới. (7) Thông tin đến nhân dân về các hoạt động của Quốc hội phong phú, kịp thời hơn.

Kết quả tích cực trong tổ chức và tiến hành kỳ họp đạt được do sự nỗ lực cải tiến, đổi mới về phương thức làm việc của các cơ quan của Quốc hội, của từng cá nhân đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các cơ quan hữu quan. Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, theo dõi sát sao tiến độ, chất lượng chuẩn bị cũng như kịp thời cho ý kiến quyết định đối với từng nội dung của kỳ họp. Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tăng cường trách nhiệm trong việc chuẩn bị các nội dung trên cả ba lĩnh vực hoạt động lập pháp, giám sát và kiến nghị. Kinh nghiệm, trí tuệ của đại biểu Quốc hội được phát huy ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự kiến chương trình kỳ họp và xây dựng các nội dung của kỳ họp đến khi xem xét, quyết định các vấn đề. Các cơ quan hữu quan tích cực hợp tác trong công việc. Bộ máy tham mưu giúp việc tận tâm hỗ trợ Quốc hội về mọi mặt. Các phương tiện thông tin đại chúng nhiệt tình hỗ trợ trong việc đưa tin, tuyên truyền về hoạt động của Quốc hội cũng như làm cầu nối phản ánh tâm tư, nguyện vọng của cử tri, Nhân dân đến Quốc hội. Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ các hoạt động của Quốc hội được tăng cường mạnh mẽ trong những năm qua…

Tuy vậy, tại các kỳ họp, vẫn còn hạn chế là tình trạng gửi tài liệu đến đại biểu Quốc hội không đúng hạn. Quy trình, thủ tục một số công đoạn chưa hoàn thiện như việc giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội trong quá trình thảo luận tại kỳ họp, trình tự, thủ tục thông qua luật, nghị quyết của Quốc hội; trình tự, thủ tục xem xét, giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội. Một số dự án luật trình Quốc hội cho ý kiến lần đầu chưa được chuẩn bị kỹ. Vẫn còn tình trạng chất lượng, tiến độ chuẩn bị của một số nội dung không bảo đảm nên phải rút ra khỏi chương trình kỳ họp ; việc tập hợp, tổng hợp ý kiến thảo luận ở tổ và hội trường có lúc, có nội dung chưa thực sự đầy đủ; có nội dung chưa được tiếp thu, giải trình hợp lý, thuyết phục. Một số ý kiến thảo luận trùng lắp, dàn trải, chưa mang tính tranh luận, chưa bám sát nội dung trọng tâm. Một số câu trả lời chất vấn còn dài, chưa giải đáp thỏa đáng vấn đề được chất vấn. Một số đại biểu Quốc hội chưa dành thời gian thỏa đáng tham dự phiên họp đã ảnh hưởng nhất định đến số đại biểu dự họp và chất lượng thảo luận, biểu quyết, tạo dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân; điều kiện phục vụ, cơ sở vật chất- kỹ thuật và một số công tác bảo đảm khác còn có những hạn chế nhất định...

Ủy ban thường vụ Quốc hội hoàn thành tốt vai trò cơ quan thường trực của Quốc hội, trong nhiệm kỳ khóa XIII, đã có nhiều đổi mới phương thức hoạt động, hoàn thành tốt nhiệm vụ, quyền hạn được giao, góp phần quan trọng vào những thành quả chung của Quốc hội. 

Từng thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội được phân công, phân nhiệm rõ ràng, cụ thể, phối hợp chặt chẽ, thực hiện nghiêm chế độ làm việc hợp lý, giúp tập thể Ủy ban thường vụ Quốc hội hoàn thành khối lượng công việc lớn, bảo đảm chất lượng các dự án, báo cáo trình Quốc hội, đáp ứng được yêu cầu đổi mới, nâng cao hiệu quả của Quốc hội. Chủ tịch Quốc hội đã phối hợp với các Phó Chủ tịch Quốc hội để chủ tọa, điều hành kỳ họp Quốc hội, phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, bảo đảm hoàn thành chương trình, nội dung theo mục đích, yêu cầu đặt ra. Các phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội được tổ chức và tiến hành ngày càng chặt chẽ, khoa học, bảo đảm đúng quy trình, hợp lý và đạt yêu cầu . Việc xem xét, thông qua pháp lệnh, nghị quyết; cho ý kiến về các dự án luật, báo cáo, đề án trước khi trình Quốc hội; xem xét việc trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội… đều bảo đảm thực hiện đúng theo quy trình, thủ tục luật định, chất lượng ngày càng được nâng cao. 

Uỷ ban thường vụ Quốc hội thường xuyên quan tâm nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn; phân công cụ thể Hội đồng dân tộc, các Ủy ban tổ chức thực hiện các nội dung liên quan theo từng lĩnh vực công tác, tránh sự bị động và hạn chế tối đa chồng chéo trong công việc, nhất là trong lĩnh vực giám sát, thẩm tra hoặc phối hợp thẩm tra các dự án, báo cáo.

Tuy nhiên, hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội vẫn còn những hạn chế như: chưa thật kiên quyết trong chỉ đạo, đôn đốc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nên chưa bảo đảm tiến độ và chất lượng một số dự án; nhiệm vụ giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh chưa được quan tâm thích đáng; việc đôn đốc thực hiện kiến nghị sau giám sát chưa thường xuyên nên hiệu lực, hiệu quả một số hoạt động giám sát chưa cao…

Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội đã không ngừng nghiên cứu, cải tiến phương thức làm việc nhằm thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ theo hướng thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm , phát huy trí tuệ tập thể và năng lực, sở trường của mỗi thành viên, phát huy tối đa vai trò trong việc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn theo quy định của pháp luật; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc làm việc, sự phân công của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội trong công tác lập pháp, giám sát, tham gia hoạt động đối ngoại và các hoạt động khác; định kỳ báo cáo Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội về hoạt động, kịp thời điều chỉnh chương trình để tránh trùng lắp trong hoạt động giám sát, đối ngoại; thực hiện nghiêm túc chế độ làm việc tập thể, quyết định theo đa số . Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội cũng đã xây dựng, ban hành quy chế hoạt động và bước đầu thực hiện ký kết các quy chế phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan nhằm cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quy trình, thủ tục tiến hành các hoạt động.

Thường trực Hội đồng dân tộc, các Ủy ban được tăng cường về số lượng, chất lượng; có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, duy trì chế độ làm việc tập thể định kỳ, phát huy dân chủ, trí tuệ tập thể, năng động, sáng tạo, chủ động trong công việc. Hoạt động của các tiểu ban ở Hội đồng dân tộc và một số Ủy ban cũng góp phần bảo đảm sự chuyên sâu theo lĩnh vực và phát huy được sở trường, sự chủ động tham gia, phối hợp của từng thành viên, đồng thời huy động tối đa sức mạnh tập thể. Các thành viên đã tham gia tích cực vào các hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban và các hoạt động khác của Quốc hội theo sự phân công của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội. 

Chuyển biến tích cực về hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong nhiệm kỳ này đó là hoạt động giám sát tiến hành thường xuyên hơn, đi sâu hơn vào nhiều vấn đề bức xúc được cử tri và dư luận xã hội quan tâm, những lĩnh vực quản lý nhà nước có nhiều vướng mắc nổi cộm trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật và thúc đẩy các bộ, ngành sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng các dự án luật, pháp lệnh đối với những vấn đề này; việc giám sát, đôn đốc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh được giao nhiệm vụ chủ trì thẩm tra sau khi được ban hành được quan tâm hơn. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ này hoạt động giải trình tại Hội đồng dân tộc, các Ủy ban được đẩy mạnh, có nhiều đổi mới, đạt kết quả thiết thực , góp phần nâng cao trách nhiệm của các bộ, ngành trong việc tổ chức thực thi Hiến pháp, pháp luật và nâng cao tính minh bạch, công khai trong hoạt động của Nhà nước, giúp Nhân dân hiểu rõ hơn về các chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước, giám sát việc thực thi trên thực tế có hiệu quả hơn. Qua hoạt động giám sát, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban có nhiều căn cứ thực tiễn quan trọng nhằm tổng hợp, phân tích, đề xuất chính sách khi tham gia chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, xây dựng nghị quyết để đạt sự thuyết phục cao. Đồng thời tăng cường tổ chức các hoạt động khác như hội thảo, tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học; phối hợp công tác với các Đoàn đại biểu Quốc hội, Đoàn thư ký kỳ họp, các cơ quan, tổ chức hữu quan.

Bên cạnh những điểm mới tích cực, hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội còn có những hạn chế nhất định. Số lượng các thành viên kiêm nhiệm trong Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội chiếm đa số nên một số hoạt động của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội chưa có sự tham gia đầy đủ của các thành viên. Bộ phận Thường trực Hội đồng dân tộc, các Ủy ban vẫn chiếm tỷ lệ thấp so với tổng số thành viên Hội đồng, Ủy ban . Hoạt động của một số Tiểu ban chưa đạt hiệu quả thực sự cao. Phạm vi lĩnh vực phụ trách của một số Ủy ban còn quá rộng, dẫn đến quá tải và chưa có điều kiện đi sâu vào một số nội dung chính sách cụ thể. Quy trình, thủ tục tiến hành một số hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội chưa rõ ràng, trong một số trường hợp chưa thể hiện đúng nguyên tắc làm việc tập thể, quyết định theo đa số. Sự phối hợp giữa một số Ủy ban của Quốc hội chưa chặt chẽ, dẫn đến việc xem xét, thẩm tra những nội dung có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều Ủy ban chưa đạt hiệu quả cao. Bộ máy giúp việc của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban chưa đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu phục vụ hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban. Việc chậm gửi tài liệu đến thành viên của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban trước mỗi phiên họp toàn thể là một trong những hạn chế vẫn chưa khắc phục được, nên đã ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu, đến chất lượng phiên họp.

Đoàn đại biểu Quốc hội chủ động hơn trong việc xây dựng kế hoạch hoạt động phù hợp và triển khai sớm các nội dung, chương trình hoạt động của Đoàn, thực hiện tốt công tác phối hợp tham gia xây dựng pháp luật, giám sát, tổ chức tiếp xúc cử tri. Các Đoàn đã tiến hành nhiều đợt tiếp xúc cử tri, hàng trăm cuộc giám sát và hàng nghìn hội nghị lấy ý kiến vào các dự án luật, nhất là đã tham gia tích cực trong đợt lấy ý kiến nhân dân về sửa đổi Hiến pháp, dự thảo Luật đất đai (sửa đổi)... Hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội tại địa phương cũng có sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ với hoạt động của Hội đồng nhân dân và các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương; tham gia thực hiện tốt công tác xã hội; giữ mối liên hệ công tác, phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan ở trung ương. Đạt được kết quả nêu trên phải kể đến sự nỗ lực của các vị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở địa phương, nhất là các Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách (dù với số lượng ít) đã phát huy tốt vai trò cầu nối, tổ chức để các Đoàn đại biểu Quốc hội hoàn thành khối lượng công việc lớn trong nhiệm kỳ qua.

Bên cạnh kết quả tích cực nêu trên, hiệu quả hoạt động giám sát, tính pháp lý của các kiến nghị sau giám sát của Đoàn vẫn còn nhiều hạn chế. Có những Đoàn, số kiến nghị giám sát mới chỉ được giải quyết 1 phần, có nội dung giám sát, Đoàn đại biểu Quốc hội chỉ xem xét báo cáo nên chất lượng chưa cao, nội dung giám sát chưa sâu. Việc lấy ý kiến tham gia vào các dự án luật còn hạn chế mà nguyên nhân chủ yếu là do tài liệu gửi về các Đoàn chậm so với quy định.

Trong nhiệm kỳ này, cử tri cả nước đã bầu đủ 500 vị đại biểu Quốc hội với cơ cấu hợp lý hơn, bảo đảm yêu cầu theo quy định của pháp luật; có kế thừa và phát triển cơ cấu đại biểu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII và các khóa trước. Tỷ lệ đại biểu trẻ tuổi, đại biểu có trình độ từ đại học trở lên tăng so với các khoá trước . Tỷ lệ đại biểu là người dân tộc thiểu số, đại biểu không là đảng viên, đại biểu trong các lĩnh vực, ngành nghề được bảo đảm phản ánh được tính đại diện rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân. Số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách tăng, chiếm tỷ lệ 30,8% tổng số đại biểu Quốc hội, đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc sắp xếp, bố trí cán bộ, kiện toàn bộ máy của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban và các Đoàn đại biểu Quốc hội. Đa số đại biểu Quốc hội có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Qua hoạt động thực tiễn cho thấy, những điểm nổi bật về cơ cấu, số lượng, chất lượng đại biểu nêu ở trên đã góp phần quan trọng, thiết thực nâng cao hiệu quả hoạt động chung của Quốc hội khóa XIII. Tuy nhiên, cơ cấu đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII vẫn còn một số hạn chế đó là tỷ lệ đại biểu Quốc hội nữ, đại biểu là người dân tộc thiểu số đạt thấp so với yêu cầu; số lượng đại biểu công tác trong các cơ quan hành hành pháp vẫn còn cao.

Các đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII đã phát huy tốt vai trò, trách nhiệm người đại biểu nhân dân, tích cực tham gia hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội mà đại biểu Quốc hội là thành viên; đã chủ động triển khai nhiều hoạt động với tư cách cá nhân đại biểu Quốc hội để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật; thường xuyên gắn bó, nắm bắt ý kiến, kiến nghị của cử tri không những ở đơn vị bầu cử mà còn cả của cử tri ở nhiều địa phương khác trong cả nước, phát hiện các vấn đề bức xúc trong thực tiễn để đề xuất ý kiến; đẩy mạnh thực hiện quyền chất vấn trên tinh thần dân chủ, thẳng thắn, hiệu quả... 

Đặc biệt, tại các kỳ họp Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội thực sự trở thành trung tâm của các kỳ họp, phát huy cao trách nhiệm trước Tổ quốc, Nhân dân trong thảo luận, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, thể hiện chính kiến rõ ràng, trách nhiệm, thẳng thắn, công tâm, nhất là khi thảo luận về kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước; về những đạo luật lớn và khó về bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân; cho ý kiến những vấn đề lớn như về bảo vệ chủ quyền biển đảo; đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; về việc đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành;… Các đại biểu Quốc hội chuyên trách cũng ngày càng khẳng định rõ vai trò là lực lượng nòng cốt trong các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội…

Tuy nhiên, hoạt động của một số đại biểu Quốc hội, nhất là đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm có những khó khăn, hạn chế nhất định, như khó khăn về bố trí thời gian, các điều kiện bảo đảm hợp lý để thực hiện nhiệm vụ với tư cách cá nhân của đại biểu; còn lúng túng trong hoạt động giám sát, nhất là giám sát, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cử tri, chưa chủ động đưa ra sáng kiến lập pháp hoặc tự giám sát những vấn đề mình quan tâm. Kỹ năng hoạt động của một số đại biểu còn hạn chế, chưa tích cực tham gia đóng góp ý kiến tại kỳ họp Quốc hội, một số đại biểu Quốc hội chuẩn bị nội dung phát biểu chất lượng thấp. Có đại biểu có những phát ngôn chưa đúng chuẩn mực, có đại biểu vi phạm pháp luật gây mất niềm tin, sự kỳ vọng, tin tưởng của cử tri và nhân dân cả nước.

Quốc hội khoá XIII đã tăng cường mối quan hệ phối hợp công tác với Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác, nhất là trong việc xây dựng và thực hiện chương trình công tác; công tác lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội. 

Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thường xuyên có các cuộc làm việc với Chính phủ để trao đổi về phương thức công tác và thống nhất các nội dung công việc, nhất là liên quan đến việc chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh, các báo cáo về kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước, các vấn đề xã hội bức xúc... mà đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước quan tâm để báo cáo Quốc hội tại các kỳ họp. Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng luôn tăng cường phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong quá trình tổ chức bầu cử, giám sát bầu cử, tuyên truyền động viên các tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia đóng góp ý kiến cho hoạt động của Quốc hội... Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tích cực tham gia vào quá trình chuẩn bị và tiến hành các hoạt động của Quốc hội, tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, nhất là trong việc thu thập, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri để báo cáo với Quốc hội. 

Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội cũng tăng cường mối quan hệ phối hợp công tác với các cơ quan, tổ chức hữu quan nhằm năng cao hiệu lực, hiệu quả trong việc thẩm tra các dự án, đề án, báo cáo; giám sát việc thực hiên các luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cơ quan chủ trì thẩm tra dự án luật, dự thảo nghị quyết đã chủ động, tích cực phối hợp với cơ quan trình dự án ngay từ khi bắt đầu và trong suốt quá trình xây dựng dự án; tổ chức các hoạt động với cơ quan trình dự án để trao đổi thông tin, thảo luận các vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội đã chủ động xây dựng các quy chế phối hợp với các các cơ quan, tổ chức hữu quan nhằm bảo đảm chủ động, thường xuyên hơn trong phối hợp công tác, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của mỗi cơ quan.

Tuy nhiên, việc phối hợp công tác với các cơ quan hữu quan vẫn có lúc, có nội dung chưa đạt kết quả như mong muốn, nguyên nhân chủ yếu là do sự chủ động, nội dung, hình thức, cơ chế phối hợp giữa Quốc hội với các cơ quan, hữu quan còn bất cập, cần được pháp luật quy định rõ ràng hơn.

Ủy ban thường vụ Quốc hội luôn quan tâm đến việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân và tăng cường mối quan hệ giữa các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội với Hội đồng nhân dân các địa phương. Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thực hiện tốt các nhiệm vụ theo thẩm quyền liên quan đến tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân địa phương, như: phê chuẩn kết quả bầu cử Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; tham dự các kỳ họp của Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Hội nghị Thường trực Hội đồng nhân dân các khu vực trên toàn quốc; ban hành hoặc chỉ đạo ban hành các văn bản hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp; chỉ đạo tổ chức các hội thảo cho đại biểu Hội đồng nhân dân ở 63 tỉnh, thành phố để trao đổi kinh nghiệm, kỹ năng hoạt động của Hội đồng nhân dân; hướng dẫn việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu khi đến tuổi nghỉ hưu, về tổ chức, hoạt động và các chế độ, chính sách đối với đại biểu Hội đồng nhân dân... Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội đã tổ chức nhiều cuộc hội nghị, hội thảo, tọa đàm khoa học với sự tham gia của đại biểu Hội đồng nhân dân và các Ban của Hội đồng nhân dân…nhằm trao đổi kinh nghiệm về công tác chuyên môn của cơ quan dân cử. Các vị đại biểu Quốc hội đã sắp xếp, bố trí công việc để tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân nơi được bầu để báo cáo kết quả kỳ họp Quốc hội, nắm tình hình địa phương và tham gia vào việc xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng tại địa phương. Các Đoàn đại biểu Quốc hội đã có sự phối hợp chặt chẽ với Thường trực Hội đồng nhân dân tổ chức lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp ở địa phương về một số dự án luật quan trọng; tổ chức giám sát ở địa phương về một số vấn đề bức xúc được cử tri quan tâm… Những hoạt động nói trên đã góp phần tăng cường mối quan hệ công tác giữa cơ quan dân cử ở trung ương và địa phương cũng như nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân. 

Tuy nhiên, mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan của Quốc hội với Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa được pháp luật quy định rõ ràng, cụ thể; việc hướng dẫn và giám sát hoạt động của Hội đồng nhân dân ở các địa phương chưa làm được nhiều…

Bộ máy giúp việc và các điều kiện bảo đảm cũng được quan tâm tăng cường, nâng cấp cả về số lượng và chất lượng. Cùng với sự đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả của bộ máy giúp việc của Quốc hội cũng là một trong những trọng tâm trong nhiệm kỳ này. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 618/2013/UBTVQH13 ngày 10/7/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 417/2003/NQ-UBTVQH11. Theo đó, Văn phòng Quốc hội được tổ chức lại theo hướng đổi mới mô hình tổ chức bộ máy giúp việc ngày càng chuyên nghiệp, hiệu quả, hợp lý, không tăng nhiều biên chế; phân công, phân nhiệm cụ thể, rõ ràng; có sự liên thông, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, bảo đảm không chồng chéo và phân tán nguồn lực để nâng cao chất lượng tham mưu, phục vụ hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội, giữ vững vai trò lớn nhất trong việc hỗ trợ hoạt động của Quốc hội; tổ chức quản lý, vận hành cơ sở vật chất mới có hiệu quả. Viện Nghiên cứu lập pháp , Ban dân nguyện và Ban công tác đại biểu tiếp tục được tăng cường năng lực, được tổ chức với vai trò là cơ quan tham mưu, giúp việc của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân là cơ quan giúp việc của Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu, giúp việc và phục vụ các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, lãnh đạo Đoàn và các đại biểu Quốc hội tại địa phương cũng như tại các kỳ họp Quốc hội.

Đội ngũ cán bộ, công chức công tác tại các cơ quan giúp việc tiếp tục tăng cường hợp lý về số lượng và chất lượng, được chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp vụ. Nhờ đó, công tác tham mưu tổng hợp, phục vụ hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội có nhiều chuyển biến tích cực. Cơ sở vật chất, kỹ thuật được từng bước tăng cường góp phần nâng cao hiệu quả phục vụ. Văn phòng Quốc hội đã giữ mối quan hệ phối hợp chủ động, cộng tác chặt chẽ với Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi bên.

Với việc quy định chức danh Tổng thư ký Quốc hội trong Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 và Quốc hội đã quyết định bầu chức danh này tại kỳ họp thứ 10 (tháng 11/2015), để thực hiện chức năng tham mưu, phục vụ hoạt động của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, đại biểu Quốc hội từ ngày 01-01-2016 là bước phát triển mới nhằm tổ chức lại các hoạt động hỗ trợ, phục vụ hoạt động Quốc hội theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời khẳng định tầm quan trọng của bộ máy giúp việc của Quốc hội trong việc góp phần vào những thành công trong hoạt động của Quốc hội. Cũng trong năm 2015, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã quyết định thành lập Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên cơ sở tách Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thành đơn vị trực thuộc Văn phòng Quốc hội nhằm bảo đảm sự thống nhất trong tổ chức bộ máy tham mưu, phục vụ Quốc hội nói chung, các Đoàn đại biểu Quốc hội nói riêng; tăng cường tính chuyên nghiệp, hiệu quả, đồng thời khắc phục những bất cập về tổ chức và hoạt động.

Dù đã có những nỗ lực đổi mới, hoàn thiện bộ máy, xét về tổng thể bộ máy giúp việc của Quốc hội vẫn còn những hạn chế. Cơ chế giúp việc cho Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội chưa rõ ràng, bên cạnh đó chưa có cơ chế giúp việc cho cá nhân các đại biểu Quốc hội nên tính chất công việc của các vụ, đơn vị giúp việc cho Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội còn chưa có sự phân biệt rõ giữa việc phục vụ cho cá nhân từng thành viên Thường trực hay giúp việc cho tập thể ủy ban, dẫn đến hiệu quả làm việc của các cơ quan giúp việc chưa cao. Về phương thức làm việc, mặc dù đã có nhiều cố gắng đổi mới như việc áp dụng công nghệ thông tin vào quy trình xử lý công việc song tính chuyên nghiệp và hiệu suất làm việc chưa cao, một phần do chưa xây dựng được quy trình làm việc một cách toàn diện và thống nhất; cách thức tuyển dụng và đào tạo chưa thực sự phù hợp với yêu cầu đặc thù của các cơ quan giúp việc của Quốc hội.

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII đánh dấu sự hoàn thành và đưa vào vận hành Nhà Quốc hội, Hội trường Ba Đình mới. Từ kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII, các kỳ họp Quốc hội, các phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng như nhiều hoạt động khác của Quốc hội được tổ chức tại Nhà Quốc hội, Hội trường Ba Đình mới. Đây là công trình hiện đại, tạo điều kiện phục vụ tối đa cho các hoạt động của Quốc hội và góp phần nâng cao vị thế của Quốc hội. Đồng thời, việc đưa công trình này vào sử dụng cũng đã tạo điều kiện để công chúng có thể vào thăm quan, dự thính các phiên họp toàn thể của Quốc hội, tìm hiểu về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đưa Quốc hội trở nên gần gũi hơn với quần chúng nhân dân.

Bên cạnh Nhà Quốc hội, Hội trường Ba Đình mới, trong nhiệm kỳ này, nhiều công trình, cơ sở vật chất khác cũng đã được đưa vào hoạt động để kịp thời phục vụ hoạt động của Quốc hội, góp phần đưa hoạt động của Quốc hội lên một tầm cao mới.

Bài học kinh nghiệm

Trải qua nhiệm kỳ 5 năm, qua những kết quả đáng trân trọng, tự hào và những tồn tại, hạn chế trong tổ chức và hoạt động, Quốc hội khóa XIII rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:

Một là, kế thừa, phát huy các thành tựu, bài học kinh nghiệm của 70 năm Quốc hội Việt Nam, Quốc hội khóa XIII đã nêu cao tinh thần đoàn kết, đổi mới mạnh mẽ, dân chủ thực sự, công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động. Với Quốc hội, đoàn kết, đổi mới, trí tuệ và trách nhiệm là yêu cầu thường xuyên, liên tục, là động lực quan trọng tạo nên sức mạnh, sự năng động, sáng tạo để đáp ứng tốt nhất yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn đặt ra;

Hai là, quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, gần dân, hiểu dân, lắng nghe dân, phục vụ dân là yêu cầu hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và từng đại biểu Quốc hội. Gắn bó chặt chẽ, mật thiết với cử tri và Nhân dân; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của cử tri và Nhân dân góp phần tạo ra sức mạnh cho Quốc hội, bảo đảm để Quốc hội bám sát sự vận động của đời sống kinh tế - xã hội, có những quyết sách đúng đắn, kịp thời, sát thực tiễn, hợp lòng dân. Dân chủ là lựa chọn tốt nhất để đưa trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của Nhân dân đến với diễn đàn Quốc hội, kết tinh vào các quyết định của Quốc hội về lập hiến, lập pháp, các vấn đề quan trọng và giám sát tối cao. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí, công khai, minh bạch hoạt động của Quốc hội sẽ đưa Quốc hội, đại biểu Quốc hội đến gần dân và dân chủ hơn;

Ba là, chất lượng đại biểu Quốc hội có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Việc tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách, tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội có năng lực, trình độ chuyên môn so với các khoá trước đã góp phần quan trọng, thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. Các vị đại biểu Quốc hội đã thể hiện trách nhiệm, bản lĩnh, trí tuệ; thảo luận, tranh luận với tinh thần xây dựng, tâm huyết; tích cực tham gia hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả của Quốc hội. Đại biểu Quốc hội chuyên trách ngày càng khẳng định rõ vai trò là lực lượng nòng cốt trong các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội;

Bốn là, đề cao vai trò, trách nhiệm, đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan của Quốc hội có ý nghĩa quyết định đến việc đảm bảo chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, giúp cho hoạt động của Quốc hội ngày càng trọng tâm, trọng điểm hơn. Hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội được tiếp tục cải tiến, đổi mới, bảo đảm làm tốt vai trò là cơ quan thường trực của Quốc hội. Thường trực Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội được tăng cường các đại biểu Quốc hội có bản lĩnh, kinh nghiệm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thực sự trở thành nòng cốt trong hoạt động của Hội đồng, Ủy ban;

Năm là, tăng cường phối hợp, hợp tác có hiệu quả với Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan, tổ chức hữu quan là yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần giúp Quốc hội hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Việc tăng cường phối hợp, hợp tác với các cơ quan hữu quan đã tạo sự thống nhất, kịp thời trong xây dựng, triển khai các nhiệm vụ, nhất là liên quan đến việc chuẩn bị các nội dung trình Quốc hội xem xét, quyết định và công tác tổ chức bầu cử, giám sát bầu cử, giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân, tuyên truyền động viên các tầng lớp Nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia đóng góp ý kiến cho hoạt động của Quốc hội... Đồng thời, cũng giúp cho các cơ quan hữu quan tích cực, chủ động đóng góp nhiều hơn cho hoạt động của Quốc hội;

Sáu là, tăng cường hoạt động đối ngoại của Quốc hội cả trên bình diện song phương và đa phương góp phần nâng cao uy tín của Quốc hội và vị thế của đất nước trên trường quốc tế, thực hiện tốt đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác để phát triển đất nước; đồng thời tiếp thu các tinh hoa, kinh nghiệm trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội/Nghị viện các nước trên thế giới trong các lĩnh vực hoạt động của Quốc hội thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng chủ động, hiệu quả hơn;

Bảy là, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy tham mưu, giúp việc Quốc hội theo hướng ngày càng chuyên nghiệp, hiệu quả, hiện đại là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng công tác tham mưu tổng hợp, phục vụ hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội;

Tám là, quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng, thực hiện sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, vì lợi ích của đất nước, của nhân dân là nhân tố quyết định để Quốc hội hoàn thành tốt trọng trách mà Nhân dân ủy thác. Thông qua các hoạt động lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao, Quốc hội đã thể chế hóa kịp thời Cương lĩnh chính trị, Nghị quyết của Đảng, sớm đưa các chủ trương, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Quốc hội đã tạo không khí dân chủ, cởi mở, phát huy trí tuệ đại biểu, nâng cao hiệu quả hoạt động Quốc hội. 

Một số kiến nghị về phương hướng, nhiệm vụ của Quốc hội trong thời gian tới

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII sắp kết thúc, nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV sắp bắt đầu và sẽ hoạt động trong trong bối cảnh đất nước tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng. Với vị trí là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của đất nước, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra đối với Quốc hội trong thời gian tới là rất nặng nề. Để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, Quốc hội khóa XIII kiến nghị Quốc hội khoá XIV và các khoá tiếp sau một số vấn đề sau đây:

Về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

- Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động lập pháp, nâng cao chất lượng, tính đồng bộ và thống nhất của các đạo luật. Đổi mới mạnh mẽ cách thức lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo hướng xác định rõ yêu cầu, điều kiện cần thiết của các dự án luật đưa vào chương trình và trách nhiệm thực hiện hoặc đôn đốc thực hiện của các chủ thể liên quan để bảo đảm tính khả thi của chương trình, có biện pháp xử lý trong trường hợp ko bảo đảm chất lượng, tiến độ trình, thông qua dự án. Tổ chức triển khai thực hiện nghiêm quy trình xây dựng ban hành luật, pháp lệnh theo quy định mới của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; đồng thời tiếp tục cải tiến việc thực hiện các công đoạn trong quy trình xem xét, thông qua luật, pháp lệnh. Theo đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội phối hợp chặt chẽ hơn với các cơ quan soạn thảo, theo sát và quyết liệt đôn đốc cơ quan soạn thảo trong việc xây dựng các dự án luật, pháp lệnh; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan soạn thảo, của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong thẩm tra dự án luật, pháp lệnh; phát huy hiệu quả vai trò của các đại biểu Quốc hội chuyên trách, sự tham gia của các chuyên gia và Nhân dân vào hoạt động lập pháp.

- Nâng cao chất lượng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, nhất là các vấn đề về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, tổ chức bộ máy nhà nước, các dự án, công trình trọng điểm quốc gia, bảo đảm lợi ích chung của quốc gia, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của Nhân dân. Tiếp tục đổi mới việc Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương; nâng cao trách nhiệm của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong việc thẩm tra dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương theo lĩnh vực được phân công. Xây dựng cơ chế hiệu quả hơn để huy động đội ngũ cộng tác viên, nhà khoa học, chuyên gia, trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức tư vấn độc lập… tham gia đóng góp vào hoạt động quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước của Quốc hội.

- Nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu lực, hiệu quả giám sát của Quốc hội, tập trung giám sát những vấn đề lớn, bức xúc trong đời sống kinh tế - xã hội; chú trọng giám sát việc thực hiện các kết luận và kiến nghị sau giám sát. Thông qua giám sát để đánh giá đúng hiệu quả hoạt động và xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, người đứng đầu thực thi công vụ nhằm thúc đẩy hoạt động của bộ máy nhà nước. Tiếp tục đổi mới hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội, phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, hoạt động giải trình tại Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, bảo đảm phát huy mạnh mẽ dân chủ, tăng tính tranh luận, đi sâu phân tích làm rõ vấn đề. Tăng cường, nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc lấy phiếu tín nhệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh chủ chốt do Quốc hội bầu, phê chuẩn. Nâng cao chất lượng giám sát chuyên đề với các chủ đề giám sát cụ thể, thiết thực, chú trọng giám sát hiệu quả của việc sử dụng ngân sách nhà nước đã được Quốc hội phân bổ. Gắn kết hoạt động giám sát với hoạt động lập pháp, kịp thời phát hiện, kiến nghị, đề xuất những quy định của luật, pháp lệnh không phù hợp để nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ.

- Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động đối ngoại của Quốc hội, tập trung xây dựng chiến lược đối ngoại tổng thể của ngoại giao nghị viện nhằm cụ thể hóa chủ trương hội nhập quốc tế, trong đó xác định trọng tâm, trọng điểm trong quan hệ. Tăng cường và đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược trong lĩnh vực đối ngoại để chủ động triển khai hiệu quả, kịp thời các hoạt động đối ngoại của Quốc hội, góp phần thực hiện có kết quả chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Đẩy mạnh công tác giám sát việc ký kết, gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế phù hợp với lợi ích của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Tăng cường giám sát hoạt động của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài gắn với chiến lược ngoại giao của nhà nước. Nâng cao hiệu quả cơ chế điều hòa, phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan của Quốc hội và giữa Quốc hội với các cơ quan của Chính phủ trong triển khai các hoạt động đối ngoại. Các cơ quan của Quốc hội cần nghiên cứu và lựa chọn địa bàn phù hợp; xác định rõ mục đích, yêu cầu, đối tác làm việc cũng như chuẩn bị kỹ nội dung trong tiếp xúc, trao đổi để đạt được hiệu quả cao nhất cả về ý nghĩa chính trị và nội dung chuyên môn.

Về tổ chức

- Tiếp tục tăng cường đại biểu Quốc hội chuyên trách (lên khoảng 40% tổng số đại biểu Quốc hội) để làm nòng cốt trong việc xây dựng luật, hoạt động giám sát và các hoạt động khác. Coi trọng chất lượng đại biểu để nâng chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, giảm số lượng đại biểu công tác tại các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước và tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội là các nhà khoa học, đại biểu có trình độ, năng lực và điều kiện hoạt động Quốc hội.

- Củng cố bộ máy của các cơ quan của Quốc hội; tăng cường bộ phận Thường trực Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội để bảo đảm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Tiếp tục xây dựng các tiểu ban trong các Uỷ ban của Quốc hội đủ mạnh và hoạt động hiệu quả hơn. Có cơ chế tăng cường vai trò của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong việc thẩm tra các dự án luật, ngân sách và hoạt động giám sát các lĩnh vực thuộc thẩm quyền.

- Củng cố, kiện toàn các cơ quan tham mưu, giúp việc theo hướng tăng tính chuyên nghiệp, ổn định, tránh chồng chéo, tăng cường dịch vụ nghiên cứu, cung cấp thông tin, hỗ trợ đại biểu Quốc hội trình sáng kiến lập pháp… Xây dựng đội ngũ tham mưu, giúp việc tương xứng với tính chất, yêu cầu của công việc thực tế; có cơ chế cụ thể để huy động đội ngũ cộng tác viên, các nhà khoa học, các chuyên gia tham gia đóng góp vào hoạt động của Quốc hội. Tăng cường công tác bảo đảm cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Tiếp tục đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền về các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội tới cử tri và nhân dân.

Về phương thức hoạt động, mối quan hệ công tác

- Đổi mới phương thức hoạt động bảo đảm Quốc hội gần dân hơn. Ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng Quốc hội điện tử với mục đích tăng cường hiệu quả, tính công khai, minh bạch trong hoạt động của Quốc hội, người dân dễ dàng tiếp cận các thông tin về Quốc hội. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội theo hướng tổ chức để từng đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri, báo cáo với cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu; tăng cường tiếp cúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực, đối tượng. Thực hiện hiệu quả việc tổ chức lấy ý kiến góp ý của cử tri vào các dự án luật, dự án khác tại các cuộc tiếp xúc; sử dụng công nghệ thông tin để mở rộng hình thức tiếp nhận ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân đối với các hoạt động của Quốc hội.

- Tiếp tục cải tiến, đổi mới tổ chức và tiến hành các kỳ họp Quốc hội, có biện pháp khắc phục hiệu quả hơn việc gửi tài liệu chậm; hoàn thiện quy trình, thủ tục giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội trong quá trình thảo luận tại kỳ họp; theo dõi, giám sát việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh để khắc phục tình trạng nhiều dự án luật được chuẩn bị không bảo đảm tiến độ, chất lượng. Các vị đại biểu Quốc hội cần nâng cao trách nhiệm, thực hiện nghiêm túc Nội quỳ kỳ họp Quốc hội và các quy định có liên quan; chủ động hơn trong việc nắm bắt thông tin để thảo luận, cho ý kiến thiết thực, đúng trọng tâm, tránh trùng lắp, tăng tính phản biển. Tổng thư ký Quốc hội và Thường trực Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội phối hợp chặt chẽ hơn trong dự kiến chương trình để bảo đảm hợp lý, sát thực.

- Đổi mới phương thức hoạt động, tăng cường năng lực hoạt động của các cơ quan của Quốc hội để nâng cao hiệu quả hoạt động, nhất là hoạt động giám sát. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về chế độ và các điều kiện bảo đảm để đại biểu thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Có cơ chế thích hợp để đánh giá kết quả và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội , làm cơ sở để cử tri giám sát hoạt động của đại biểu Quốc hội.

- Có cơ chế để đại biểu Quốc hội tham gia ý kiến, thảo luận kỹ những vấn đề quan trọng trước khi cơ quan có thẩm quyền của Đảng xem xét, quyết định.

- Tăng cường phối hợp công tác giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; giữa Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội với nhau và với các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức hữu quan trong việc xem xét, quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội./.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Hình ảnh

Video

Quốc ca

Thời khóa biểu

Truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 39

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 37


Hôm nayHôm nay : 2230

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 25939

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 558334